kinh tế và kinh doanh khác nhau như thế nào
Hoạt động kinh doanh trên thế giới hiện nay cực kỳ rộng lớn, và sôi động. Chỉ ở Việt Nam đã có hơn hàng trăm ngàn doanh nghiệp hoạt động. Hoạt động kinh doanh không đơn giản là đi bán một sản phẩm thu tiền về, mà là một quá trình phức hợp chịu sự chi phối bởi nhiều quy luật kinh tế khác nhau, của việc quản trị, chiến lược và nhiều yếu tố khác.
Về cơ bản, kinh tế cho rằng vốn nên luôn được đầu tư theo cách sẽ tạo ra lợi nhuận tốt nhất được điều chỉnh theo rủi ro. Tài chính ở các thị trường Không có gì đáng ngạc nhiên khi một trong những ứng dụng tài chính phổ biến nhất trên thị trường là việc xác định giá trị hợp lý cho một loạt các sản phẩm đầu tư.
Kinh tế thị trường phát triển, giao lưu thương mại, mua bán hàng hóa được đẩy mạnh, các chủ thể mua bán hàng hóa cũng được biết đến với những tên gọi khác nhau như "thương nhân", "doanh nghiệp" và "chủ thể kinh doanh". Vậy như thế nào là "thương nhân
Chiến lược kinh doanh quốc tế của Toyota: Không còn nghi ngờ gì khi nói rằng Toyota là một trong những nhà sản xuất xe hơi lớn nhất trên hành tinh với doanh thu đứng vào hàng công ty lớn thứ mười trên thế giới theo doanh thu vào năm 2019. Toyota được vinh danh không chỉ là một trong những nhà sản xuất xe hơi tốt
2.2. Chiến lược phát triển của Vinamilk. Theo Hội đồng Quản trị Vinamilk, mục tiêu chiến lược kinh doanh của Vinamilk là tiếp tục duy trì vị trí số 1 tại thị trường Việt Nam và tiến tới mục tiêu trở thành 1 trong Top 30 Công ty Sữa lớn nhất thế giới về doanh thu.
Các doanh nghiệp lớn có nguồn vốn rất lớn và tiềm lực kinh tế mạnh nên có thể nhanh chóng thay đổi và tiếp xúc với sự tiên tiến của khoa học kỹ thuật trên thế giới. Doanh nghiệp lớn có sức cạnh tranh mạnh về vốn, nhân lực và thương hiệu tốt hơn so với các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Hủy Hợp Đồng Vay Tiền Online. Trang chủXã hộiCử nhân ngành Kinh tế quốc tế sẽ có cơ hội làm việc trong các cơ quan cấp bộ, cục, vụ,… trong khi đó, cử nhân ngành Kinh doanh quốc tế chủ yếu sẽ làm việc tại các doanh 10/4, Trường ĐH Kinh tế Quốc dân tổ chức Ngày hội Tư vấn tuyển sinh năm 2021. Nhiều thí sinh quan tâm đến sự khác nhau giữa hai ngành học Kinh tế quốc tế và Kinh doanh quốc browser does not support the video tag. Khác biệt nhưng vẫn có sự giao thoa“Có nhiều người còn mơ hồ về hai ngành học này. Đây cũng là điều dễ hiểu vì thực tế, hai ngành này có sự giao thoa với nhau như cùng đạo tạo cử nhân kinh tế hay người học đều phải học những môn đại cương, môn cơ sở ngành như nhau”, TS Nguyễn Thị Thúy Hồng, Giảng viên cao cấp, Phó Trưởng bộ môn Kinh tế quốc tế, Viện Thương mại và Kinh tế quốc tế, Trường ĐH Kinh tế Quốc dân cho Nguyễn Thị Thúy Hồng, Giảng viên cao cấp, Phó Trưởng bộ môn Kinh tế quốc tế, Viện Thương mại và Kinh tế quốc tế, Trường ĐH Kinh tế Quốc dânCụ thể, theo bà Hồng, cử nhân ngành Kinh tế quốc tế sẽ có cơ hội làm việc trong các cơ quan cấp bộ, cục, vụ, viện; các trường đại học, viện nghiên cứu; tham gia vào các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp liên quan đến xuất nhập khẩu, logistics,…Trong khi đó, cử nhân ngành Kinh doanh quốc tế sẽ phục vụ cho các ngành về vi mô, các doanh nghiệp liên quan đến đầu tư quốc tế, dự án nước ngoài, dự án chuyển giao khoa học công nghệ và các dịch vụ quốc tế bản chất, hai ngành này có nhiều nét tương đồng, chỉ khác nhau về các môn chuyên ngành chuyên sâu như Kinh tế quốc tế thiên về vĩ mô, còn Kinh doanh quốc tế thiên về vi mô.“Chương trình của cả hai ngành học đều được thiết kế dựa trên chương trình quốc tế, tham khảo từ các trường đại học có xếp hạng trên thế giới. Nhìn vào nhu cầu của xã hội và thực tiễn phát triển của kinh tế nước nhà, chúng tôi liên tục có những điều chỉnh chương trình dạy – học sao cho phù hợp, đáp ứng được chất lượng sinh viên và nhu cầu việc làm sau khi ra trường cho các em”, TS Hồng chia sẻĐiểm chuẩn dự kiến vẫn ở top đầu, tỉ lệ 'chọi' caoTheo TS Nguyễn Thị Thúy Hồng, Kinh tế quốc tế và Kinh doanh quốc tế là 2 ngành còn non trẻ nhưng luôn thu hút thí sinh. Liên tiếp 4 năm gần đây, điểm chuẩn đầu vào của 2 ngành này luôn ở ngưỡng 24 – 28 trên thang điểm 30.“Ngoài việc giảng dạy lý thuyết cơ sở, lý thuyết chuyên sâu về ngành học, sinh viên theo học Kinh doanh quốc tế và Kinh doanh quốc tế sẽ được nghiên cứu về các chính sách, đối sách, đàm phán quốc tiết học cũng được tăng thời lượng thực hành bằng việc mô phỏng những buổi đàm phán, giúp sinh viên được rèn nghề như trong môi trường làm việc thực thụ”.Sinh viên khi theo học hai ngành Kinh tế quốc tế và Kinh doanh quốc tế cũng đòi hỏi khả năng tiếng Anh phải tốt do các em cần phải học từ các tài liệu chuyên khảo cùng các môn chuyên ngành bằng tiếng TS Hồng, việc đẩy mạnh thực hành và tiếng Anh trong chương trình học sẽ giúp sinh viên vững kỹ năng nghề và năng động hơn. Theo khảo sát, sau khi ra trường, nhiều sinh viên ngành này có thể đạt mức lương khởi điểm dao động từ 800 – 1000 USD/ Hồng nhìn nhận, năm 2020, do ảnh hưởng của dịch Covid-19, việc các doanh nghiệp thu hẹp biên chế hoặc kiêm nhiệm khiến tỉ lệ sinh viên ra trường làm đúng ngành nghề giảm đi tương đối so với những năm trước đó.“Tuy nhiên, đến hiện tại, nhu cầu của xã hội về nhân lực trong hai ngành này vẫn tương đối lớn. Việt Nam là một nước đang phát triển, cần ký kết rất nhiều hiệp định kinh tế với các nước trong khu vực và trên thế giới. Điều đó đồng nghĩa với việc, ít nhất trong khoảng 5 năm tới, ngành học này vẫn thu hút người học”, bà Hồng nói.
Kinh tế và kinh doanh là chủ đề toàn cầu ngày nay. Kinh doanh là một hoạt động kinh dù cả hai đều là thuật ngữ được sử dụng trong khoa học xã hội, nhưng chúng rất khác tế và kinh doanh song hành cùng nhau. Kinh tế học nghiên cứu cung cầu sản phẩm trong nền kinh kinh doanh cung cấp các sản phẩm và dịch vụ và bán khóa chínhKinh tế học nghiên cứu việc sản xuất, tiêu thụ và phân phối hàng hóa và dịch vụ, trong khi kinh doanh là việc áp dụng các nguyên tắc kinh tế tập trung vào các chính sách cấp vĩ mô ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh tế, trong khi kinh doanh liên quan đến việc ra quyết định ở cấp vi tế nhằm mục đích tối đa hóa phúc lợi xã hội, trong khi kinh doanh nhằm mục đích tối đa hóa lợi nhuận của các bên liên tế là Khoa học xã hội liên quan đến sản xuất, phân phối và tiêu thụ hàng hóa và dịch vụ. Kinh doanh đề cập đến các hoạt động liên quan đến sản xuất và trao đổi hàng hóa và dịch vụ vì lợi nhuận và tập trung vào các ngành, công ty và thị trường cụ muốn lưu bài viết này cho sau này? Nhấp vào trái tim ở góc dưới cùng bên phải để lưu vào hộp bài viết của riêng bạn!Bảng so sánhCác thông số so sánhKinh tếKinh doanhĐịnh nghĩaĐó là nghiên cứu về những người sử dụng các nguồn lực hạn chế của họ để đáp ứng các yêu cầu của là hoạt động kinh tế trong đó hàng hóa và dịch vụ được trao đổi để lấy liệu chínhTỷ giá hối đoái, thâm hụt ngân sách, thu nhập bình quân đầu người, lãi suất repo, tốc độ tăng trưởng GDP, suất lợi nhuận ròng, đòn bẩy tài chính, tỷ suất lợi nhuận gộp, hệ số quay vòng tài sản, rộngNó có ý định mở rộng phúc lợi của xã có ý định mở rộng sự thịnh vượng của các cổ vấn đề được giải quyếtKinh tế tập trung vào các vấn đề như thuế, lãi suất, nghèo đói, chi tiêu chính phủ, thất nghiệp, nghiệp tập trung vào các vấn đề như tăng trưởng hữu cơ và vô cơ, khác biệt hóa sản phẩm, định vị sản phẩm, giảm thiểu chi phí, nhấn mạnh vàoNó nhấn mạnh vào việc làm thế nào để các nguồn lực không đủ có thể mang lại kết quả tốt nhấn mạnh vào việc sử dụng tốt nhất các nguồn lực không đầy tế học là gì?Kinh tế học là một nhánh của khoa học Xã hội được sử dụng để nghiên cứu các hành động và quyết định của các công ty, cá nhân, nhân viên, chính phủ và khách hàng để biết ảnh hưởng của họ đối với nền kinh tế của đất tế học là một chủ đề rộng hơn bao gồm nhiều chủ đề, chẳng hạn như toán học, chính trị, các mối quan hệ quốc tế và nhiều hơn nữa. Các khái niệm cơ bản đằng sau kinh tế học là cung và cầu, tỷ giá hối đoái, lạm phát, cán cân thanh toán, sản xuất, lãi suất, thương mại quốc tế, sự trợ giúp của kinh tế học, mọi người có thể suy nghĩ logic và đọc các lý thuyết khác nhau để áp dụng chúng nhằm hiểu rõ hơn việc triển khai các nền kinh tế trên toàn thế giới. Mọi người có thể dễ dàng hiểu được các vấn đề phức tạp của nền kinh tế để tối đa hóa lợi ích của loại hình kinh tế khác nhau là kinh tế vi mô và kinh tế vĩ mô, kinh tế công nghiệp và tài chính và kinh tế thuần túy và ứng dụng. Kinh tế học vi mô bao gồm các quyết định kinh tế được xử lý ở cấp độ vi tế vĩ mô bao gồm các quyết định kinh tế được xử lý ở cấp độ kinh tế công nghiệp, có một nghiên cứu về các ngành công nghiệp và thị trường và các lĩnh vực doanh nghiệp, bao gồm các công ty thuộc mọi cấp độ và quy mô. Trong kinh tế tài chính, trọng tâm chính là các hoạt động tiền tế học thuần túy giải quyết các dòng nguyên tắc của các lập luận và logic thuần túy. Kinh tế học ứng dụng là sự triển khai các lý thuyết kinh tế để dự đoán các kết quả có thể xảy doanh là gì?Doanh nghiệp là một hoạt động kinh tế trong đó hàng hóa và dịch vụ được trao đổi giữa hai hoặc nhiều người để kiếm tiền. Các yêu cầu kinh doanh cơ bản là tiền và cơ sở khách việc kinh doanh đòi hỏi tiền dưới nhiều hình thức khác nhau và cơ sở khách hàng mà sản phẩm có thể được bán để kiếm lợi doanh là một tập hợp các hoạt động và hành vi khác nhau, bao gồm kế toán, chiến lược kinh doanh, bán hàng và tiếp thị, tài chính, phát triển và phân tích sản phẩm, nguồn nhân lực và quản lý. Nó cũng nghiên cứu sự thay đổi nhanh chóng của các điều kiện môi trường để biết tác động của nó đến giá trị tổng cũng xem xét các yếu tố khác của nền kinh tế, các quy tắc và quy định của chính phủ và điều kiện chính trị của một quốc gia để biết tác động đối với bất kỳ tổ chức và bất kỳ ngành niệm cơ bản đằng sau bất kỳ hoạt động kinh doanh nào là thu lợi nhuận và khuếch đại sự giàu có của các cổ đông. Sự gia tăng tài sản của bất kỳ hoạt động kinh doanh nào dẫn đến việc tăng giá cổ phiếu của công ty, điều này làm tăng tài sản ròng của các cổ loại hình doanh nghiệp bao gồm công ty hợp danh, trách nhiệm hữu hạn, công ty tư nhân và công ty. Một công ty thuộc quyền sở hữu của các cổ đông đầu tư vào vốn kinh doanh để điều hành các hoạt động của công ty hợp danh là một doanh nghiệp trong đó có mối quan hệ giữa hai hoặc nhiều người chịu trách nhiệm thực hiện các hoạt động kinh doanh. Tất cả các đối tác chia sẻ lợi nhuận và thua lỗ thu được trong kinh thực thể hoặc một người duy nhất sở hữu và điều hành doanh nghiệp trong một doanh nghiệp tư nhân. Trong trách nhiệm hữu hạn, trách nhiệm pháp lý của bất kỳ đối tác nào không thể vượt qua số tiền đã đầu tư vào công ty hợp danh hoặc công ty trách nhiệm hữu khác biệt chính giữa Kinh tế và kinh doanhKinh tế học nghiên cứu cách mọi người sử dụng các nguồn lực của họ để đáp ứng các yêu cầu của họ. Ngược lại, kinh doanh là một hoạt động kinh tế trao đổi hàng hóa và dịch vụ để lấy loại hình kinh tế chính là kinh tế vi mô và kinh tế vĩ mô, kinh tế công nghiệp và tài chính và kinh tế thuần túy và ứng dụng. Ngược lại, các loại hình kinh doanh chính là công ty hợp danh, trách nhiệm hữu hạn, công ty tư nhân và công khái niệm kinh tế cơ bản là cung và cầu, tỷ giá hối đoái, sản xuất, Ngược lại, khái niệm cơ bản của kinh doanh là tạo ra lợi nhuận và khuếch đại sự giàu có của các cổ tế có ý định mở rộng phúc lợi xã hội, trong khi kinh doanh có ý định mở rộng sự thịnh vượng của các cổ số liệu chính của kinh tế học là tỷ giá hối đoái của tiền tệ, thu nhập bình quân đầu người, tốc độ tăng trưởng GDP, trong khi các số liệu kinh doanh chính là tỷ suất lợi nhuận ròng, tỷ suất lợi nhuận gộp, án Yadav có bằng MBA về Tài chính. Mục tiêu của cô là đơn giản hóa các chủ đề liên quan đến tài chính. Cô đã làm việc trong lĩnh vực tài chính khoảng 25 năm. Cô đã tổ chức nhiều lớp học về tài chính và ngân hàng cho các trường kinh doanh và cộng đồng. Đọc thêm tại cô ấy trang sinh học.
Kinh tế quốc tế và kinh doanh quốc tế đang là hai ngành tối ưu hóa trong phát triển xã hội ngày nay. Tuy nhiên, không phải ai cũng biết kinh doanh quốc tế khác kinh tế quốc tế. Nhiều người đang có sự phân vân nên học kinh tế quốc tế hay kinh doanh quốc tế? Cùng tham khảo bài viết dưới đây của Đại học Đông Á để có những giải đáp chi tiết thắc mắc này nhé. Điểm giống nhau giữa kinh doanh quốc tế và kinh tế quốc tếNgành kinh tế quốc tế và kinh doanh quốc tế khác gì nhau?Đối với ngành kinh doanh quốc tếĐối với ngành Kinh tế quốc tếNên học kinh tế quốc tế hay kinh doanh quốc tế? Điểm giống nhau giữa kinh doanh quốc tế và kinh tế quốc tế Trước khi tìm hiểu nên học kinh doanh quốc tế hay kinh tế quốc tế thì chúng ta cần biết được kinh doanh quốc tế và kinh tế quốc tế có những điểm gì giống nhau Cả hai ngành đều cung cấp cho sinh viên những kiến thức chuyên môn về lĩnh vực Logistic, xuất nhập khẩu, vận tải, bảo hiểm…. KTQT và KDQT đều có nhiệm vụ đào tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao để đáp ứng nhu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp, có thể làm việc trong môi trường quốc tế. Cơ hội nghề nghiệp sau khi ra trường của cả hai ngành học này gần như giống nhau. Điểm giống nhau giữa KDQT và KTQT Bên cạnh những điểm giống nhau thì kinh doanh quốc tế với kinh tế quốc tế khác gì nhau? Dưới đây là đặc điểm riêng của mỗi ngành. Đối với ngành kinh doanh quốc tế Ngành kinh doanh quốc tế thuộc khối ngành quản lý. Ngành này đi sâu vào các hoạt động kinh doanh quốc tế và đầu tư quốc tế của doanh nghiệp. Sinh viên khi theo học ngành này có 2 hướng để phát triển bản thân sau đây Thứ nhất là Trở thành Quản lý các chuỗi cung ứng, làm việc trong ngành Logistics, xuất nhập khẩu. Nếu lựa chọn theo định hướng này thì các bạn sẽ học chuyên sâu hơn về các nghiệp vụ vận đơn đường sắt, đường biển, đường hàng không hoặc nghiệp vụ vận tải; nghiệp vụ bảo hiểm cho hàng hoá… Thứ 2 là Thực hiện các hoạt động quản lý tại các doanh nghiệp hoặc những lĩnh vực trong doanh nghiệp bao gồm marketing, quản trị nguồn nhân lực nhân sự, quản trị bán hàng, thực hiện các nghiệp vụ tài chính trong công ty, doanh nghiệp tỷ giá hối đoái, thanh toán quốc tế. Sinh viên được đào tạo khả năng chuyên môn để nhận biết và giải quyết vấn đề trong hoạch định, triển khai các hoạt động kinh doanh quốc tế. Đối với ngành kinh doanh quốc tế Đối với ngành Kinh tế quốc tế So sánh với kinh doanh quốc tế thì KTQT có tính chất vĩ mô hơn. Sinh viên ngành này có khả năng nhận biết các môi trường kinh tế của từng khu vực, từng vùng, từng quốc gia hoặc từng doanh nghiệp. Các bạn học KTQT sẽ phân tích đánh giá sau đó hoạch định và xây dựng nên các chuỗi cung ứng hàng, chuỗi xuất nhập khẩu một mặt hàng/ngành hàng giữa các vùng, các quốc gia với nhau. Bên cạnh đó, sinh viên ngành kinh tế đối ngoại còn được trang bị những kiến thức chuyên môn để phân tích và đánh giá đánh giá quy trình vận hành của chuỗi. Từ đó đưa ra những phương pháp tăng cường để hoàn thiện chuỗi cung ứng. Sau khi tốt nghiệp, các sinh viên học ngành này có thể làm việc trong các vị trí sau đây quản trị chuỗi cung ứng SCM, logistic, phân tích thị trường, xuất nhập khẩu… Với các thông tin trên thì các bạn chắc đã nắm được ngành kinh tế quốc tế và kinh doanh quốc tế khác gì nhau rồi đúng không nào. CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM Ngành Kinh Doanh Quốc Tế Học Gì? Chương Trình Đào Tạo? “Khuyên Bạn” Nên Học Marketing Hay Kinh Doanh Quốc Tế? Nên học kinh tế quốc tế hay kinh doanh quốc tế? Khi đã nắm được kinh tế quốc tế khác gì kinh doanh quốc tế thì các bạn có thể tự đưa ra quyết định theo học ngành nào của mình. Hai ngành này có những sự tương đồng nhất định nên học ngành nào cũng có tiềm năng xin việc làm cao. Tuy nhiên, kinh tế quốc tế là ngành có tính vĩ mô hơn nên có thể nó sẽ có những kiến thức phức tạp hơn. Hãy xem ngành nào có điểm đầu vào phù hợp với năng lực của mình hơn để lựa chọn nhé. Hy vọng những thông tin về kinh tế quốc tế và kinh doanh quốc tế ở trên đã giúp bạn có những cái nhìn chính xác hơn về 2 ngành này. Chúc bạn chọn được ngành phù hợp nhất để thực hiện ước mơ nhé.
Nhiều sinh viên đối mặt với tình trạng tiến thoái lưỡng nan chung khi quyết định giữa các môn học mà họ nên tham gia vào các kỳ thi tuyển sinh đại học / cao đẳng hoặc chuyên ngành và môn học nào họ nên chọn khi học để lấy bằng cử nhân. Một lựa chọn như vậy cần được thực hiện là giữa nghiên cứu kinh tế và nghiên cứu kinh doanh. Trong khi một sinh viên có thể lựa chọn để học cả hai, một số trường đại học như một loạt các môn học sẽ được thực hiện bởi sinh viên thay vì học các môn học bao gồm các khía cạnh tương tự như kinh doanh và kinh tế. Bài báo nhằm mục đích cung cấp một giải thích rõ ràng về từng vấn đề và cho thấy hai cái này giống nhau và khác nhau như thế nào. Kinh tế được định nghĩa là một khoa học xã hội nghiên cứu cách hành động của các doanh nghiệp, cá nhân, nhân viên, khách hàng và chính phủ có thể ảnh hưởng đến nền kinh tế của đất nước. Các khái niệm chính được sử dụng trong giảng dạy kinh tế bao gồm cung và cầu, lãi suất, tỷ giá hối đoái, thương mại quốc tế, lạm phát, sản xuất, cán cân thanh toán, vv Các trung tâm kinh tế tập trung vào các vấn đề chính của thế giới như toàn cầu hóa, thương mại quốc tế, công đoàn, chính trị và cách các lựa chọn của các thực thể khác nhau như các doanh nghiệp và chính phủ có thể ảnh hưởng đến nền kinh tế địa phương cũng như của thế giới nên kinh tê. Kinh tế học sẽ dạy bạn suy nghĩ một cách logic và học các lý thuyết và sử dụng chúng để hiểu nền kinh tế hoạt động ra sao. Học sinh sẽ được dạy cách hiểu các vấn đề và khái niệm phát triển quanh các khía cạnh phức tạp của nền kinh tế và cách thức quản lý nền kinh tế theo cách mà tất cả các nhóm người trong một quốc gia được hưởng lợi như một tổng thể. Kinh doanh nghiên cứu khám phá các hành động của các doanh nghiệp cá nhân và các ngành công nghiệp như một toàn thể và xoay quanh chủ đề tổ chức, quản lý, nhân sự, chiến lược kinh doanh, bán hàng và tiếp thị, phân tích và phát triển sản phẩm, kế toán, tài chính … Nghiên cứu kinh doanh cũng xem xét các nguồn lực bên ngoài trong nền kinh tế, tình hình chính trị của đất nước, các quy định của chính phủ, luật pháp vv ảnh hưởng đến các doanh nghiệp và ngành công nghiệp và tìm hiểu cách thức doanh nghiệp phản ứng với những điều kiện môi trường thay đổi như thế nào. Nghiên cứu kinh doanh cũng giải thích cách các công ty quản lý chiến lược kinh doanh của họ, chiến thuật tiếp thị và các lý thuyết được sử dụng, lý thuyết quản lý nguồn nhân lực và lý thuyết động lực và cũng giải thích một số vấn đề cơ bản về kế toán và quản lý tài nhiên, các nghiên cứu kinh doanh nói chung không dạy cho sinh viên cách bắt đầu và điều hành doanh nghiệp của mình và chỉ cung cấp kiến thức và công cụ để nghiên cứu các công ty thành công, sau đó có thể áp dụng cho các doanh nghiệp mới khởi nghiệp. Tuy nhiên, kinh doanh chủ yếu tập trung vào lĩnh vực này. Sự khác biệt giữa Kinh tế và Kinh doanh là gì? Các nghiên cứu kinh doanh và kinh tế có liên quan khá nhiều đến nhau vì cả hai đều khám phá một vài khái niệm chung cho cả hai lĩnh vực nghiên cứu. Tuy nhiên, kinh tế học chủ yếu tập trung vào cách thức các nhà kinh tế và hành động của họ có thể ảnh hưởng đến nền kinh tế địa phương và toàn cầu trong khi các nghiên cứu kinh doanh tập trung vào các doanh nghiệp, các ngành công nghiệp, chiến lược quản lý, nguồn nhân lực … Kinh tế học mang tính học thuật hơn nghiên cứu kinh doanh và có số lượng lớn các mô hình và lý thuyết. Mặt khác, nghiên cứu kinh doanh có những lý thuyết nhỏ hơn và sự hiểu biết thấp hơn kinh tế nhưng lại đòi hỏi nhiều học hỏi và làm việc thông qua một số lượng lớn các chủ đề và các khái niệm liên quan đến kinh doanh. Kinh tế học, theo nghĩa nào đó, khám phá các khái niệm sâu hơn, trong khi các nghiên cứu kinh doanh khám phá nhiều khái niệm rộng lớn hơn. Tóm tắt Kinh tế học & Kinh doanh Kinh doanh và kinh tế học khá liên quan đến nhau vì cả hai đều khám phá một vài khái niệm chung cho cả hai lĩnh vực nghiên cứu. • Kinh tế được định nghĩa là một khoa học xã hội nghiên cứu cách hành động của các doanh nghiệp, cá nhân, nhân viên, khách hàng và chính phủ có thể ảnh hưởng đến nền kinh tế của đất nước. • Nghiên cứu kinh doanh khảo sát các hoạt động của từng doanh nghiệp và các ngành công nghiệp nói chung và chủ yếu xoay quanh các chủ đề về tổ chức, quản lý, nhân sự, chiến lược kinh doanh, bán hàng và tiếp thị, phân tích và phát triển sản phẩm, kế toán, tài chính … Kinh tế học mang tính học thuật cao hơn các nghiên cứu kinh doanh và có nhiều mô hình và lý thuyết, trong khi đó các nghiên cứu kinh doanh đòi hỏi nhiều học hỏi và làm việc thông qua một số lượng lớn các chủ đề và các khái niệm liên quan đến kinh doanh. • Trong một nghĩa nào đó, kinh tế học khám phá các khái niệm sâu hơn, trong khi các nghiên cứu kinh doanh khám phá nhiều khái niệm khác nhau rộng hơn.
Hiện nay, nền kinh tế nước ta đang trên đà phát triển mạnh mẽ với sự đóng góp của nhiều doanh nghiệp, tập đoàn đa quốc gia. Hơn lúc nào hết hành lang pháp lý và các vấn đề về chính sách kinh tế của doanh nghiệp cần được chú trọng, nhất là khi vai trò của pháp luật ngày càng được đề cao trong xã hội dân chủ, văn minh. Khi đó, nguồn nhân lực tốt nghiệp từ nhóm ngành Luật liên tục được "săn đón" cũng là chuyện dễ hiểu! Tuy nhiên, với sức hút lớn này, nhiều bạn trẻ đã lựa chọn ngành học khi chưa thực sự hiểu bản thân yêu thích điều gì, có những điểm mạnh nào và ngành học có phù hợp với tố chất của bản thân không? Mỗi một ngành học trong nhóm ngành Luật sẽ có đặc trưng riêng về chuyên môn đào tạo và vị trí nghề nghiệp tương ứng. Bài viết dưới đây sẽ giúp các bạn hiểu rõ hơn ngành Luật và ngành Luật kinh tế khác nhau như thế nào? Hiểu ngành Luật và ngành Luật kinh tế như thế nào cho đúng Luật là một hệ thống các quy tắc được tạo ra và được thi hành thông qua Chính phủ để điều chỉnh hành vi của xã hội. Sinh viên theo học ngành Luật sẽ được trang bị nhiều kiến thức chung về vận dụng, thực hành các quy định pháp luật vào đời sống, kinh doanh, quản lý,…. Theo học ngành Luật tại UEF sinh viên sẽ được cung cấp những kiến thức tổng quát về tất cả các lĩnh vực luật, cũng như các vấn đề liên quan đến từng nội dung luật cụ thể, như bồi thường hợp đồng, tranh chấp thương mại, khiếu nại, tố cáo, khoa học về điều tra hình sự, quyền con người, quyền công dân,... Ngoài ra, sinh viên còn được học các môn đậm chất pháp lý và khai phá tư duy như Tâm lý học, luật hình sự, luật dân sự, luật tố tụng dân sự, luật tố tụng hình sự, tư pháp quốc tế, luật thương mại quốc tế,… Ngành Luật tại UEF gồm có 3 chuyên ngành sâu sau Luật dân sự, Luật hình sự, Luật hành chính. Hiểu ngành Luật và ngành luật kinh tế khác nhau như thế nào giúp thí sinh định hướng chọn ngành chuẩn xác hơn Luật kinh tế lại là hệ thống các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành chỉ để điều chỉnh các quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình tổ chức và quản lý kinh tế của Nhà nước và trong quá trình sản xuất kinh doanh giữa các chủ thể kinh doanh với nhau. Sinh viên theo học ngành Luật kinh tế tại UEF sẽ được đào tạo những kiến thức và kỹ năng chuyên sâu về pháp luật, thực tiễn pháp lý, pháp luật trong kinh doanh; khả năng nghiên cứu và xử lý những vấn đề pháp lý đặt ra trong thực tiễn hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và quản lý Nhà nước đối với doanh nghiệp. Sự khác nhau trong vị trí công việc của ngành Luật và ngành Luật kinh tế Học ngành Luật sau khi ra trường làm gì? Tốt nghiệp ngành Luật, các bạn có thể đảm nhận nhiều vị trí công việc khác nhau tùy vào năng lực và bề dày kinh nghiệm như - Chuyên viên tư vấn luật pháp tại các công ty, doanh nghiệp. - Kiểm sát viên hoặc làm trong bộ phận pháp chế doanh nghiệp kiểm soát hoạt động kinh doanh trong khuôn khổ luật pháp, khi bạn có bề dày kinh nghiệm và bổ túc thêm kiến thức chuyên sâu có thể trở thành thẩm phán, luật sư. Học ngành Luật kinh tế sau khi ra trường làm gì? Sinh viên sau khi tốt nghiệp ngành Luật kinh tế không khó để chọn lựa những việc làm với mức lương hấp dẫn và có khả năng thăng tiến cao như - Chuyên gia tư vấn pháp lý, phân tích, đánh giá, giải quyết các vấn đề phát sinh trong quá trình vận hành của nền kinh tế, các hoạt động kinh doanh và đảm bảo các hoạt động của tổ chức đúng chủ trương, chính sách của nhà nước và các công ước quốc tế có liên quan đến lĩnh vực kinh tế. - Chuyên viên thực hiện các dịch vụ pháp lý của luật sư hoặc người hành nghề luật sư trong các tổ chức dịch vụ pháp luật. - Chuyên viên tư vấn pháp luật trong các doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế, xã hội. - Chuyên viên lập pháp, hành pháp và tư pháp trong các cơ quan nhà nước các cấp. - Nghiên cứu, giảng dạy về pháp luật kinh tế tại các viện nghiên cứu, cơ sở giáo Luật và ngành Luật kinh tế ở đâu? Sau khi đã nắm rõ ngành Luật và ngành Luật kinh tế khác nhau như thế nào, bước tiếp theo các bạn nên tìm cho mình trường có thế mạnh đào tạo các ngành học này. Thí sinh có thể tham khảo thông tin đào tạo hai ngành học này tại các trường Đại học Luật Trường Đại học Kinh tế - Tài chính thành phố Hồ Chí Minh UEF, Đại học Công nghệ HUTECH, Đại học Kinh tế - Luật ĐHQG Đại học Mở Những thí sinh quan tâm đến UEF và yêu thích ngành Luật hoặc ngành Luật kinh tế đều có thể đăng ký vào trường bằng các phương thức xét kết quả thi THPT quốc gia, xét học bạ lớp 12 theo điểm tổ hợp 3 môn hoặc xét kết quả thi đánh giá năng lực của Đại học Quốc gia Từ những thông tin vừa cung cấp, tin chắc rằng các bạn đã có thể trả lời cho câu hỏi ngành Luật và Luật kinh tế khác nhau như thế nào. Đây sẽ là tiền đề quan trọng để các bạn lựa chọn đúng đắn xuất phát điểm cho tương lai của mình. Thụy My
Tóm lượcTín dụng – số tiền bạn nhận được mà bạn phải trả lại sau này – cung cấp năng lượng cho nền kinh tín dụng hơn có nghĩa là nền kinh tế sẽ chi tiêu nhiều hơn. Chi tiêu nhiều hơn có nghĩa là thu nhập nhiều hơn, và thu nhập nhiều hơn có nghĩa là có nhiều tín dụng hơn từ người cho dụng cũng tạo ra nợ số tiền đã vay phải được trả lại, vì vậy chi tiêu phải giảm sau chính phủ tăng và giảm lãi suất để giữ cho nền kinh tế trong tầm kiểm kinh tế khiến thế giới vận hành. Nó ảnh hưởng sâu sắc đến cuộc sống hàng ngày của mỗi chúng ta, vì vậy chắc chắn chúng ta cần tìm hiểu sâu sắc về nhiều định nghĩa khác nhau về “nền kinh tế”, tuy nhiên nhìn chung, nền kinh tế có thể được mô tả là một khu vực nơi hàng hóa được sản xuất, tiêu dùng và trao đổi. Bạn thường thấy khái niệm nền kinh tế được thảo luận ở cấp quốc gia. Các chuyên gia và phóng viên tin tức thường đề cập đến nền kinh tế Hoa Kỳ, nền kinh tế Trung Quốc, Tuy nhiên, chúng ta cũng có thể xem xét hoạt động kinh tế qua lăng kính toàn cầu bằng cách xem xét các hoạt động và công việc của mỗi quốc bài viết này, chúng ta sẽ đi sâu vào các khái niệm tạo nên nền kinh tế dựa trên mô hình của Ray Dalio được giải thích trong video Cỗ máy kinh tế vận hành như thế nào.Hãy bắt đầu với nền kinh tế ở quy mô nhỏ trước. Hàng ngày, chúng ta đóng góp cho nền kinh tế bằng cách mua tức là thực phẩm và đồ dùng gia đình và bán tức là làm việc để nhận tiền lương. Các cá nhân, tổ chức, chính phủ và doanh nghiệp khác trên toàn thế giới cũng làm điều này trên ba khu vực của thị vực sơ cấp liên quan đến việc khai thác tài nguyên thiên nhiên. Khu vực này bao gồm một số hoạt động như chặt cây, khai thác vàng và trồng trọt một vài ví dụ. Những vật liệu này sau đó được sử dụng trong khu vực thứ cấp, khu vực chịu trách nhiệm chế tạo và sản xuất. Cuối cùng, khu vực ba bao gồm các dịch vụ từ quảng cáo đến phân phối. “Ba khu vực” là mô hình được thống nhất chung. Tuy nhiên, một số nhà phân tích đã mở rộng nó để bao gồm khu vực bốnvà khu vực nhị phân để phân biệt rõ hơn giữa các dịch vụ trong khu vực cấp xác định sức khỏe của nền kinh tế, chúng ta có thể đo lường nó bằng cách nào đó. Cho đến nay, phương pháp phổ biến nhất để làm điều này là sử dụng chỉ số GDP, hoặc Tổng Sản phẩm Quốc nội. Chỉ số này nhằm tính toán tổng giá trị của hàng hóa và dịch vụ được sản xuất tại một quốc gia trong một thời kỳ nhất một cách tổng thể, GDP tăng có nghĩa là sản xuất, thu nhập và chi tiêu tăng lên. Ngược lại, GDP giảm cho thấy sản xuất, thu nhập và chi tiêu giảm. Lưu ý rằng có một số biến thể GDP thực tế tính đến lạm phát, trong khi GDP danh nghĩa chưa bao gồm lạm vẫn chỉ là con số gần đúng, nhưng nó có ý nghĩa quan trọng trong các phân tích ở cấp quốc gia và quốc tế. Tất cả mọi người, từ những người tham gia thị trường tài chính nhỏ cho đến Quỹ Tiền tệ Quốc tế, đều sử dụng chỉ số này để hiểu rõ hơn về tình hình kinh tế của các quốc là một chỉ số đáng tin cậy về nền kinh tế của một quốc gia, nhưng, như trong phân tích kỹ thuật, tốt nhất là nên tham khảo chéo nó với các dữ liệu khác để có được sự hiểu biết toàn diện cho vay và người đi vayChúng tôi đã đề cập rằng mọi thứ đều xoay quanh việc mua và bán. Các hoạt động cho vay và đi vay cũng rất cần thiết. Giả sử bạn đang có một số lượng lớn tiền mặt nhàn rỗi. Bạn có thể muốn đầu tư số tiền đó để có thể tạo ra nhiều tiền cách để làm điều này là cho vay số tiền cho những người cần nó, chẳng hạn để mua máy móc phục vụ hoạt động kinh doanh của họ. Hiện tại họ không có sẵn tiền mặt, nhưng sau khi họ mua máy móc, họ có thể hoàn trả số tiền từ doanh thu bán hàng thành phẩm của họ. Bạn đóng vai trò là người cho vay, và bên kia đóng vai trò là người đi thu lợi nhuận từ hoạt động này, bạn thu một khoản phí từ việc cho vay số tiền của bạn. Nếu bạn cho vay USD, bạn có thể nói với họ, "bạn có thể có số tiền này với điều kiện bạn phải trả cho tôi 1% giá trị số tiền mà số tiền chưa được hoàn trả." Khoản phí này được gọi là tiền trường hợp lãi suất đơn giản, bên vay sẽ nợ bạn USD mỗi tháng cho đến khi họ hoàn trả hết toàn bộ số tiền. Nếu số tiền được hoàn trả sau ba tháng, bạn sẽ nhận được USD, cộng với bất kỳ khoản phí bổ sung nào khác mà bạn đã chỉ cho vay số tiền đó, bạn tạo ra tín dụng một thỏa thuận rằng người vay sẽ trả lại cho bạn số tiền đó. Người dùng thẻ tín dụng chắc hẳn không xa lạ với khái niệm này. Khi bạn thực hiện thanh toán bằng thẻ, số tiền sẽ không bị xóa ngay lập tức khỏi tài khoản ngân hàng của bạn. Bạn thậm chí không cần có tiền trong tài khoản ngân hàng, miễn là bạn thanh toán lại cho ngân hàng sau dụng đi kèm với nợ. Khi bạn cho vay, người khác nợ tiền bạn. Còn khi bạn đi vay, bạn nợ tiền người khác. Khoản nợ sẽ biến mất khi bạn hoàn trả toàn bộ khoản vay cùng với lãi hàng và lãi suấtNgân hàng có lẽ là chủ nợ lớn nhất trong thế giới ngày nay. Bạn có thể coi họ là người trung gian hoặc môi giới giữa người cho vay và người đi vay. Các tổ chức tài chính này trên thực tế đảm nhận cả hai vai bạn gửi tiền vào ngân hàng, bạn cho ngân hàng vay tiền và họ sẽ phải trả lại bạn khoản tiền đó. Nhiều người khác cũng làm như vậy. Và khi ngân hàng có một lượng tiền mặt lớn, họ sẽ đem nó cho nhiên, điều đó có nghĩa là ngân hàng sẽ không cho vay tất cả số tiền mà họ nhận được cùng một lúc. Họ vận hành một hệ thống dự trữ phân đoạn. Ngân hàng có thể gặp vấn đề nếu tất cả mọi người yêu cầu ngân hàng trả lại tiền cho họ cùng một lúc, nhưng điều đó hiếm khi xảy ra. Tuy nhiên, trong trường hợp điều đó xảy ra ví dụ nếu mọi người mất niềm tin vào ngân hàng, một cuộc đột biến rút tiền gửi sẽ xảy ra và có thể khiến ngân hàng sụp đổ. Các cuộc đột biến rút tiền gửi diễn ra trong cuộc Đại Suy thoái của Hoa Kỳ năm 1929 và 1933 là những ví dụ điển ngân hàng thường khuyến khích bạn cho họ vay tiền của bạn bằng cách cung cấp lãi suất. Đương nhiên, lãi suất cao hơn sẽ hấp dẫn hơn đối với người cho vay vì họ sẽ nhận được nhiều tiền hơn. Điều này ngược lại đối với người đi vay tiền, vì lãi suất thấp hơn có nghĩa là họ sẽ không cần phải trả nhiều tiền ngoài số tiền sao tín dụng lại quan trọng?Tín dụng có thể được coi là một loại chất bôi trơn cho nền kinh tế. Nó cho phép các cá nhân, doanh nghiệp và chính phủ chi tiêu một khoản tiền mà họ không có sẵn ngay lập tức. Một số nhà kinh tế cho rằng điều này không tốt, nhưng nhiều người tin rằng chi tiêu tăng là dấu hiệu của một nền kinh tế đang phát triển mạnh. Nếu mọi người chi tiêu nhiều tiền hơn, sẽ có nhiều người nhận được thu nhập hơn. Các ngân hàng có xu hướng cho những người có thu nhập cao hơn vay tiền, nghĩa là mọi người bây giờ có khả năng tiếp cận nhiều tiền mặt và tín dụng hơn. Với nhiều tiền mặt và tín dụng hơn, mọi người có thể chi tiêu nhiều hơn, điều đó giúp nhiều người nhận được thu nhập hơn, và chu kỳ tiếp thu nhập hơn → nhiều tín dụng hơn → nhiều chi tiêu hơn → nhiều thu nhập nhiên, chu kỳ này không thể tiếp tục vô thời hạn. Khi bạn vay USD hôm nay, bạn đang lấy đi của mình nhiều hơn USD của ngày mai. Vì vậy, mặc dù bạn có thể tạm thời tăng chi tiêu của mình, cuối cùng bạn vẫn phải giảm chi tiêu để trả Dalio mô tả khái niệm này là chu kỳ nợ ngắn hạn, được minh họa bên dưới. Ông ước tính rằng những mô hình này tự lặp lại trong khoảng thời gian 5-8 đỏ là năng suất, đại lượng này tăng trưởng theo thời gian. Màu xanh lá cây là số lượng tín dụng tương đối có chính xác thì chúng ta đang xem xét cái gì? Trước tiên, hãy lưu ý rằng năng suất đang tăng đều đặn. Nếu không có tín dụng, chúng ta dự đoán đó sẽ là nguồn tăng trưởng duy nhất – nhưng sau tất cả, bạn cần phải sản xuất để nhận được thu phần đầu của biểu đồ, chúng ta có thể thấy rằng nhờ tín dụng, thu nhập tăng nhanh hơn năng suất điều này giúp nền kinh tế mở rộng. Cuối cùng, đà tăng trưởng dừng lại và dẫn đến sự thu hẹp của nền kinh tế. Trong phần thứ hai, khả năng cung cấp tín dụng giảm đáng kể do hậu quả của “sự bùng nổ” ban đầu. Do đó, việc vay vốn trở nên khó khăn hơn và lạm phát gia tăng, buộc chính phủ phải thực hiện các biện pháp kiềm cùng tìm hiểu thêm về điều này trong phần tiếp phátGiả sử mọi người đều có khả năng nhận rất nhiều tín dụng phần một của biểu đồ của phần trước. Họ có thể mua nhiều hơn những gì mà họ không thể nếu không nhận được tín dụng. Nhưng mặc dù chi tiêu đang tăng chóng mặt, sản xuất lại không tăng. Trên thực tế, cung hàng hóa và dịch vụ không tăng về mặt vật chất, nhưng cầu của nó thì xảy ra tiếp theo là lạm phát đây là khi bạn bắt đầu thấy giá cả hàng hóa và dịch vụ tăng lên do nhu cầu cao hơn. Một chỉ số phổ biến để đo lường lạm phát là Chỉ số giá tiêu dùng CPI, theo dõi giá của hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng điển hình theo thời hàng trung ương vận hành như thế nào?Các ngân hàng mà chúng tôi mô tả trước đó thường là các ngân hàng thương mại – họ phục vụ chủ yếu cho các cá nhân và doanh nghiệp. Các ngân hàng trung ương là cơ quan chính phủ chịu trách nhiệm quản lý chính sách tiền tệ của một quốc gia. Các ngân hàng trung ương bao gồm tổ chức tài chính như Cục Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ, Ngân hàng Anh, Ngân hàng Nhật Bản và Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc. Ngân hàng trung ương có các chức năng nổi bật là bổ sung tiền vào lưu thông thông qua nới lỏng định lượng và kiểm soát lãi ngân hàng trung ương có thể tăng lãi suất làm khi lạm phát vượt khỏi tầm kiểm soát. Khi lãi suất tăng, tiền lãi phải trả cao hơn, do đó, việc vay nợ có vẻ không hấp dẫn. Vì các cá nhân cũng cần trả nợ nên chi tiêu dự kiến sẽ một thế giới lý tưởng, lãi suất cao hơn khiến giá cả giảm xuống do nhu cầu ít hơn. Nhưng trên thực tế, nó cũng có thể gây ra giảm phát.. Giảm phát có thể là một vấn đề trong một số bối cảnh nhất phátNhư bạn có thể đoán, giảm phát ngược lại với lạm phát. Chúng ta định nghĩa giảm phát là sự sụt giảm của giá cả nói chung trong một khoảng thời gian, thường là do giảm chi tiêu. Vì người tiêu dùng chi tiêu ít hơn, giảm phát có thể đi kèm với suy thoái xem Giải thích về khủng hoảng tài chính 2008.Một giải pháp được đề xuất để giải quyết giảm phát là giảm lãi suất. Khi lãi suất tín dụng giảm, mọi người được khuyến khích vay nhiều hơn. Khi đó, với nhiều tín dụng có sẵn hơn, chính phủ dự đoán rằng các bên tham gia nền kinh tế sẽ tăng chi tiêu của họ. Giống như lạm phát, giảm phát có thể được đo lường thông qua Chỉ số giá tiêu giải thích rằng biểu đồ chúng tôi minh họa ở trên chu kỳ nợ ngắn hạn là một chu kỳ nhỏ trong chu kỳ nợ dài kỳ nợ dài hình được mô tả ở trên nguồn cung tín dụng tăng và giảm tự lặp lại theo thời gian. Tuy nhiên, vào cuối mỗi chu kỳ, nợ sẽ tăng lên. Cuối cùng, khoản nợ trở nên không thể quản lý được, gây ra tình trạng xóa nợ trên quy mô lớn khi các cá nhân cố gắng giảm nợ.Khi việc xóa nợ xảy ra, thu nhập bắt đầu giảm và tín dụng cạn kiệt. Khi không trả được nợ, các cá nhân tìm cách bán tài sản của mình. Nhưng khi quá nhiều người làm việc đó cùng một lúc, giá tài sản sẽ giảm do nguồn cung dồi trường chứng khoán sẽ sụp đổ trong những tình huống như thế này, và ở giai đoạn này, ngân hàng trung ương sẽ không thể giảm lãi suất để giảm bớt gánh nặng nếu chúng đã ở mức 0%. Nếu họ làm điều đó, lãi suất sẽ rơi xuống mức âm và đây là một giải pháp gây tranh cãi và không phải lúc nào cũng hiệu họ có thể làm gì? Cách rõ ràng nhất là giảm chi tiêu và xóa nợ. Tuy nhiên, những điều này lại mang đến những vấn đề khác chi tiêu giảm có nghĩa là doanh nghiệp sẽ không có lãi, đồng nghĩa với việc thu nhập của nhân viên sẽ giảm. Các ngành công nghiệp sẽ cần phải cắt giảm lực lượng lao động, dẫn đến tỷ lệ thất nghiệp cao đó, thu nhập thấp hơn và lực lượng lao động bị thu hẹp có nghĩa là chính phủ không thể thu nhiều thuế. Đồng thời, họ sẽ cần phải chi tiêu nhiều hơn để cung cấp cho số lượng người thất nghiệp ngày càng tăng. Khi chính phủ chi tiêu nhiều hơn số tiền nhận được, họ sẽ bị thâm hụt ngân tiền gây ra lạm phát vì nó làm tăng cung tiền. Đây là một đường dốc trơn trượt mà cuối cùng có thể dẫn đến siêu lạm phát, khi lạm phát tăng nhanh đến mức phá hủy giá trị của đồng tiền và dẫn đến thảm họa kinh tế. Bạn chỉ cần nhìn vào các ví dụ của Cộng hòa Weimar vào những năm 1920, Zimbabwe vào cuối những năm 2000 hoặc Venezuela vào cuối những năm 2010 để thấy tác động của siêu lạm so sánh với các chu kỳ ngắn hạn, chu kỳ nợ dài hạn diễn ra trong một khung thời gian dài hơn nhiều, được cho là xảy ra cứ sau 50 đến 75 tôi đã đề cập đến một số chủ đề ở đây. Cuối cùng, mô hình của Dalio xoay quanh sự sẵn có của tín dụng – khi có nhiều tín dụng, nền kinh tế bùng nổ. Khi có ít tín dụng hơn, nền kinh tế thu hẹp. Các sự kiện này xen kẽ nhau để tạo ra các chu kỳ nợ ngắn hạn, và các chu kỳ nợ ngắn hạn này tạo nên một phần của các chu kỳ nợ dài suất ảnh hưởng nhiều đến hành vi của những người tham gia vào nền kinh tế. Khi lãi suất ở mức cao, việc tiết kiệm trở nên có ý nghĩa hơn, vì chi tiêu không phải là ưu tiên nhiều. Khi lãi suất giảm, chi tiêu dường như là quyết định hợp lý máy kinh tế quá lớn, do đó bạn cảm thấy khó để hiểu hết tất cả các thành phần của nó. Tuy nhiên, bằng cách quan sát kỹ, chúng ta có thể thấy các mô hình tương tự lặp đi lặp lại khi những người tham gia giao dịch với bây giờ, hy vọng bạn đã hiểu rõ hơn về mối quan hệ giữa người cho vay và người đi vay, tầm quan trọng của tín dụng và nợ cũng như các bước mà các ngân hàng trung ương thực hiện để cố gắng giảm thiểu thảm họa kinh tế.
kinh tế và kinh doanh khác nhau như thế nào